Trang trại Bảy Đức - Đ/c: Thôn Tiến Hiệp, xã Tiến Lợi, Phan Thiết, Bình Thuận




Cung cấp dông giống cho hộ gia đình muốn phát triển nghề nuôi dông và hướng dẫn phương pháp nuôi.

Cung cấp dông thịt cho nhà hàng, quán ăn có chất lượng, uy tín, giá phải chăng.

Liên hệ: Trang trại ông Bảy Đức. Địa chỉ: Thôn Tiến Hiệp - xã Tiến Lợi - Phan Thiết - Bình Thuận.

Điện thoại nhà: 062.3.729.964. Điện thoại di dộng: 0188.917.3137. Email: Thanhthuydpi@yahoo.com.vn. Nickchat yahoo: Thanhthuydpi

Con Dông là nguồn thực phẩm tự nhiên vô giá và là đặc sản đặc sắc của vùng ven biển Phan Thiết - Bình Thuận quê tôi. Mời các bạn ghé thăm trang Blog để biết thêm về loài Dông, các món ăn đặc sắc từ Dông và kỹ thuật nuôi dông.

Thứ Hai, 7 tháng 11, 2011

Nuôi dông để đổi đời


Nhiều năm trước, con dông ở vùng "sa mạc" Hòa Thắng (huyện Bắc Bình, tỉnh Bình Thuận) chỉ là loài vô danh tiểu tốt. Đến khi du lịch phát triển, dông lên đời vì trở thành món đặc sản hấp dẫn khách phương xa.
Bắt dông bán được tiền nên phong trào đào đất khui hầm săn dông phát triển rầm rộ. Đến khi con dông vắng bóng trên các động cát, quay lại với những cánh đồng cằn cỗi vì nắng hạn, người dân Hòa Thắng quay quắt với bữa đói bữa no. "Khoảng 2 năm trở lại đây, điệp khúc đói nghèo ở Hòa Thắng đã sang trang trước sự phát triển của nghề nuôi dông. Nhiều người từ khó nghèo nay đã có của ăn của để cũng nhờ con dông xứ cát" - ông Trương Quang Thọ, Phó Chủ tịch xã Hòa Thắng, cho biết. 
Chúng tôi ghé nhà chị Võ Thị Mến, ngụ thôn Hồng Lâm, một trong những điển hình nuôi dông thành công ở xã Hòa Thắng. Chị Mến cho biết nhà chị có 2 sào ruộng nhưng vì đất đai bạc màu, nắng hạn triền miên, việc canh tác hoàn toàn phụ thuộc vào nước trời mỗi năm chỉ làm một vụ nên năng suất thấp kém, khi được giá thì mất mùa, lúc được mùa thì mất giá, nên dẫu cả gia đình làm việc cật lực nhưng nhiều năm vẫn không "cất đầu lên nổi".
Sau nhiều năm quanh quẩn với cuộc sống nghề nông nghèo khó không có lối ra, đầu năm 2009, thấy một số người dân trong xã nhờ nuôi dông mà phất lên trông thấy nên chị Mến bàn với chồng "bắt chước người ta". Sau khi khoe đợt thu hoạch dông vào trung tuần tháng 10 được gần 20 triệu đồng, chị Mến chia sẻ: "Vay mượn được gần 20 triệu đồng, tôi đầu tư xây dựng chuồng trại, mua dông giống thả nuôi. Hằng ngày ông xã tôi đi hái rau, bứt cỏ, đào trùn cho dông ăn. Nuôi được gần 2 năm thì những con dông bé tí tẹo nhỏ như con thằn lằn tăng trọng cỡ 3 con một ký (3 con/kg), lái thu vào một ký 280.000 đồng. Bán hết một mớ, tôi hiện còn 70kg dông thịt, tương đương 20 triệu đồng và còn nhân được khoảng 5kg dông giống, mỗi ký xuất cho người nuôi hiện cũng được xấp xỉ 500.000 đồng".

Nghề nuôi dông ở Bình Thuận đang mở ra cơ hội thoát nghèo.

Cùng niềm vui với chị Mến, chị Võ Thị Hòa ở thôn Hồng Lâm hân hoan tâm tình sau nhiều năm bí lối làm ăn, con dông là cứu tinh giúp gia đình chị và người dân ở xã tự tin mơ tới một ngày mai khá giàu. "Ông xã tôi là dân săn dông thứ thiệt ở vùng đất này" - chị Hòa bật mí: "Những khi trời nắng hạn không thể trồng trọt gì được, vậy là ổng cùng nhiều người khác nhóm lại đi đào dông bán cho các đoàn khách du lịch. Bắt riết rồi dông cũng sạch, khi ấy một người trong nhóm săn dông với ổng mới nghĩ chuyện nuôi dông và đã nhân giống thành công. Thấy nghề này có triển vọng nên vợ chồng tôi huy động vốn quyết sống chết với nghề".
Khoảng giữa năm 2009, thay vì làm đất rải hạt như người ta, vợ chồng chị Hòa mua tôn về quây chuồng rồi thả dông giống và thành công ngoài mong đợi. Tổng số vốn đầu tư lúc ban đầu là 46 triệu đồng, đến khoảng tháng 6/2010 vợ chồng chị xuất dông thịt được hơn 30 triệu đồng.
Hiện vợ chồng chị Hòa còn ngần ấy dông thịt, nếu nuôi thêm 1 tháng nữa thì khả năng sẽ thu về xấp xỉ 50 triệu đồng. Đó là chưa kể số dông con trị giá hơn chục triệu đồng. Chị Hòa khẳng định: "Con dông rất dễ nuôi và thu lợi cao. Nghề này hễ vào cuộc chỉ có thắng với thắng".
Theo thống kê của UBND xã Hòa Thắng, nghề nuôi dông ở địa phương rộ lên từ đầu năm 2008 đến nay. Toàn xã hiện có 120 hộ nuôi dông trên diện tích khoảng 20ha. Ông Nguyễn Thanh Lâm, cán bộ văn phòng xã, cho biết: "Dông là loài bò sát dễ nuôi, ít bệnh tật, ăn được nhiều loại thức ăn, từ rau, cỏ, củ quả các loại đến các loại côn trùng. Hiện nghề nuôi dông ở địa phương ngày một phát triển nhờ đầu ra của dông giống lẫn dông thịt ổn định. Không chỉ phục vụ thị trường tỉnh Bình Thuận, con dông còn được xuất đi các tỉnh lân cận, đặc biệt là thị trường TP Hồ Chí Minh"

Thứ Bảy, 5 tháng 11, 2011

Dông 3 món đặc sắc

GỎI DÔNG :
Làm gỏi dông rất công phu, phải có "bí quyết" nhà nghề mới chế biến được. Làm sạch ruột, lột da, đưa vào lò nướng, khi thịt dông vàng mới lấy ra. Sau đó băm nhuyễn, xào chín và trộn với trái cóc hoặc xoài cắt chỉ nhỏ, rau thơm, đậu phộng rang giòn và đặc biệt phải có "lá xoài dông", một thứ lá cây mọc trên các vách đá vùng khô hạn, có vị chát. Gỏi dông ăn chung với bánh tráng dày, nhiều mè, xúc mãi không chán.
 Khi làm món gỏi Dông, Dông được đem nhúng nước sôi rồi lột lớp da giấy bên ngoài (dân địa phương gọi là da đất), tiến hành rửa và "mổ bụng" (đặc biệt sau khi mổ không được rửa nước vì như vậy thịt Dông sẽ rất tanh). Sau đó Dông được đặt lên vỉ và nướng, lửa không được quá già vì như thế sẽ làm cháy Dông, khi ăn thịt Dông sẽ giảm vị ngọt. Trong quá trình nướng Dông mọi gia vị như lá me non, rau răm, tiá tô, húng thái nhỏ chuẩn bị là vừa. Nếu có lá cóc rừng thái nhỏ thì thật là đúng "hệ", nhưng lá cóc rừng vốn khó kiếm nên ít được phổ biến. Nước mắm, gừng, tỏi, ớt, đường được chế biến thật kẹo, cay ngọt phải đậm sẽ làm tăng thêm vị ngọt của thịt Dông. Dông nướng xong, thịt được xé nhỏ (giống xé phay thịt gà) trộn đều với gia vị và rưới thêm chút dấm, như vậy ta đã có món gỏi Dông. Gỏi Dông được cuốn với bánh tráng sống (nhúng nước để cho mềm) và chấm nước mắm thì thật là tuyệt hảo.

Nếu như món gỏi Dông mang dáng dấp bình dân thì Dông chiên lăn bột hay chả Dông lại mang dáng dấp cao lương mỹ vị mà ta thường gặp trong các nhà hàng hay các tiệm ăn sang trọng. Dĩ nhiên các món này gia vị đòi hỏi phải nhiều và đắt tiền như: bột mì, trứng gà (hay trứng vịt), mỡ (hoặc bơ), bột ngọt, ngũ vị hương hay các thứ màu mè khác. Nhưng đa số người dân địa phương vẫn yêu thích những món bình dân cực kỳ ngon lành do tự tay họ chế biến

2. LẨU DÔNG :
Làm thịt dông, rửa sạch, chặt thành từng miếng tùy theo ý thích, rồi ướp gia vị cho thấm mới nấu món ăn. Để thêm hương vị đậm đà có người lại đem thịt dông băm nhỏ cùng ớt, hành củ có lá và ướp đường, nước mắm, muối. Trộn chung với bột năng, thêm chút nước rồi giã nhuyễn. Sau đó, vò lại thành viên cỡ nào cũng được. Chiên sơ qua dầu hơi vàng. Lá me chua rửa sạch, lặt bỏ cọng, lấy lá non, vò giập giập. Cho vào nấu nước lẩu cùng các gia vị: hành, tỏi giã giập, ít muối tiêu, nêm tí bột ngọt nếm vừa miệng ăn. Ăn lẩu dông lá me cũng phải biết cách: cho bún vào tô, gắp thịt dông cho vào, múc nước lẩu chan đều, kèm ít cọng rau sống, ăn nóng rất ngon. Nếu chưa vừa miệng, bạn có thể thêm nước mắm ngon dầm ớt xiêm, cay cay hít hà mới đã. Nhưng vị ngọt lự chính là thứ nước lẩu còn sau cùng, chưa dùng hết xem như chưa biết món lẩu dông lá me
3.DÔNG NƯỚNG:
Hấp dẫn hơn là món dông nướng. Có hai cách để làm dông nướng, tùy theo yêu cầu của khách hàng. Dông nướng để nguyên da, và dông nướng ướp muối ớt sau khi đã lột da. Ngon nhất trong con dông nướng là mật và trứng dông. Mật dông có vị béo nhân nhẩn và để lại cái hậu thật ngọt. Trứng dông rất béo, bùi bùi dùng không ngán, được xem là một loại sơn hào hải vị.
Thịt dông thơm, mềm và có vị ngòn ngọt, gần giống như thịt gà nên còn được gọi là “gà đất”. Khi chế biến, người ta có thể ướp thịt dông với sả và gia vị rồi đem nướng, hoặc có thể làm món dông bằm xúc bánh tráng.

Nguyên vật liệu:

_ 1 con kỳ nhông rừng
_ 3 quả cà chua
_ 1 củ hành mọc vùng hoang mạc (trắng hoặc vàng)
_ 1/2 pounds nấm vùng hoang mạc
_ 1/2 thìa cafe xì dầu
_ muối
_ que nướng

Chú thích: có thể thay thế thịt kỳ nhông rừng bằng vật liệu khác
Hướng dẫn thực hiện:

Con kỳ nhông phải còn sống nguyên. Hãy hù doạ cho nó sợ hãi, điều này sẽ làm chất hoang dã thấm vào thịt nó, cho ta một hương vị rất đăc biệt. Sau đó tốt nhất nên dùng vật nặng gõ 1 phát ân huệ vào đầu nó để chuẩn bị bước vào khâu chế biến.

Lưu ý: Đừng giết con kỳ nhông bằng Plasma Gun. Kết quả sẽ không như ý muốn
_ luộc con kỳ nhông 3 phút, sau đó lột da, làm sạch bộ đồ lòng
_ ướp xì dầu trong vòng 5 phút
_ xâu thịt và cà chua đã cắt miếng vào que
_ nướng trên lò nướng cho đến khi vàng rụi, ta co thê thưởng thức
_ dành cho ghoul và mutant: sau khi nướng có thể hơ trên chất thải phóng xạ vài phút.
KỲ NHÔNG HẦM THUỐC BẮC
nhưng khúc thịt được chặt khoanh tẩm ướt gia vị 1 lát sau cho vào niêu  , hầm với nhục thung dung ,ba kích , kỷ tử, đương quy, đảng sâm ... lên màu hấp dẫn ngon hơn là cái chất rồng đất của nó
Độc đáo chả dông
Với 5 con dông sống, bạn có thể chế biến món này cho 5 người lai rai ngon lành. 100g giò sống, lá xào dông, hành tím, tỏi, sả, ớt, nước mắm, bột ngọt, tiêu và dầu ăn.
Đem dông lột da, rửa sạch, bằm nhỏ rồi ướp với nước mắm, hành tím, tỏi, sả, tiêu, bột ngọt, lá xào dông. Thời gian ướp 5 phút, cho giò sống với thịt dông vào xay chung thật nhuyễn. Viên thành từng viên. Bắc chảo lên bếp nóng, cho dầu vào đun sôi, cho từng viên lên chảo dầu chiên chín vàng là được. Món này ăn kèm với cơm rất ngon.

 

Thứ Tư, 2 tháng 11, 2011

Thịt dông 7 món


In Email
Ðặc sản của đồi cát là dông. Dông sống trong hang, sáng tinh mơ ra đồi cát tìm ăn chồi non và uống sương đêm, vì thế mà thịt thơm, săn và ngọt, được xem là một vị thuốc bổ. Thịt dông trắng như thịt gà, mà lại ngọt, bùi và mềm hơn. Xương rất mềm, gần như là sụn. Còn da thì dòn sừn sựt. Tuy nhiên khi chế biến người ta thường lột vứt bỏ vì trông không bắt mắt.
dong-2
Người Ninh Thuận chế biến 7 món thịt dông: Dông nướng, dông rô ti, dông hấp, chả dông, gỏi dông, cháo dông và dông nấu dưa hồng. Món nào cũng ngon. Tuy nhiên, quý bà quý cô có phần ngần ngại khi nhìn những con dông nướng, rô ti hay hấp còn nguyên cả đầu, bốn chân và cái đuôi dài dài. Nhưng đến món gỏi hay chả, khi dông được bằm nhuyễn thì dầu có nhát gan cũng chẳng mấy ai từ chối.

Thật vậy, như với món gỏi dông để nguyên xương được bằm nhỏ, xào chín và trộn với cóc hoặc xoài xắt chỉ, rau thơm, đậu phụng rang dòn, nước mắm pha và đặc biệt phải có lá xào dông, một thứ lá trông giống lá chùm ruột non, sống trên vách đá vùng khô hạn, mùi thơm thoảng vị chát. Gỏi dông ăn với bánh tráng nướng, thứ bánh tráng dày, nhiều mè, nướng vàng rụm, xúc mãi không chán.
dong-1
Nhưng theo dân sành điệu thì thức ngon nhất trong con dông là mật và trứng. Mật dông có vị béo nhân nhẫn và để lại cái hậu thật ngọt. Trứng dông rất béo, rất bùi mà không ngậy, được xem là một loại sơn hào hải vị. Chẳng thế mà chuyện ngày xưa kể rằng ở làng Mỹ Tường, trong lễ vật thách cưới phải có một thúng trứng dông, những cái trứng chỉ to bằng đầu ngón tay út! rất may tục lệ này đã bị bãi bỏ chứ nếu không thì hẳn trai Mỹ Tường ngày nay nhiều người phải chịu cảnh phòng không. Hầu hết các nhà hàng, quán đặc sản ở Phan Thiết đều có món dông.  Nhiều quán nhậu ở Sài Gòn cũng có những món ngon đặc sắc này.

Chủ Nhật, 30 tháng 10, 2011

Thịt dông, món ngon Ninh Thuận



Nuôi dông đã trở thành một hướng đi hiệu quả ở những huyện ven biển của tỉnh Ninh Thuận.
Thịt dông nướng, món ăn hấp dẫn với nhiều du khách.
Từ Tâm là tên một thôn thuộc xã Phước Hải (huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận). Nơi đây có dông (nhông) tập trung nhiều, là nơi cung cấp thịt dông cho các chợ, nhà hàng, quán nhậu trong tỉnh Ninh Thuận.
Vì dông là “họ hàng” gần gũi với kỳ nhông, tắc kè, rắn mối, nên những ai chưa từng biết đến con dông thoạt nhìn cũng có hơi… khó chịu. Tuy nhiên, đó chỉ là những cảm giác ban đầu, bạn sẽ quên ngay sau đó khi trước mặt là những dĩa nhông ram, nhông xào, gỏi nhông dậy mùi thơm phức; cắn vào một miếng thấy giòn tan và béo ngậy, như có sự phối hợp hoàn chỉnh giữa thịt ếch, chuột đồng và chim sẻ vậy.
Dông ở Ninh Thuận có 4 loại: dông lửa, dông rằn xám trắng, dông bột, dông đen. Chúng chỉ thích sống ở những động cát khô khát. Do chạy nhanh, “ngụp lặn” như... sao xẹt trên những suối cát mịn màng mà dông được phong cho biệt danh là ông “vua” của những đồi cát. Một điều lạ là cũng trên vùng cát nóng bỏng này, có một loài cây bụi lá nhỏ từa tựa như lá đinh lăng (cây gỏi cá), thơm mùi hăng hắc rất đặc trưng. Một dúm lá non thái nhỏ trộn chung với thịt dông, thêm ít gia vị, sẽ thành món gỏi ngon tuyệt. Dân địa phương gọi luôn cây này là cây lá dông, một cây một con, “hạp nhau” như lá lốt với thịt bò, thịt cầy với lá mơ.
Những vùng đồi cát có nhiều rau dại như sam, chành rành, muống biển… là nơi dông rất thích ở và đào hang. Từ tháng 3 đến tháng 6 âm lịch, dông sinh trưởng mạnh nhất. Con dông chỉ ra khỏi hang kiếm ăn vào mùa nắng. Mùa mưa chúng ẩn mình trong hang sâu, có khi đến 2-3 mét. Dông nhịn đói rất tốt và khi đói quá chúng…tự ăn đuôi của mình để rồi sau đó lại mọc ra như cũ. Thường thì người ta bắt dông bằng cách làm thòng lọng bằng dây cước cắm ngay miệng hang, muốn chắc ăn hơn thì bắt bằng cách đào hang. Song thường phải có hai người- một người đào và một người đứng canh chừng, bởi đã có nhiều trường hợp người đào dông bị chết do cát sụt lấp không moi lên kịp. Những ngày nắng nóng, một người có thể bắt được 3 - 5kg dông, ngày trời mát, dông ít lên, bắt được ít hơn.
Do bị con người săn bắt, từ dông mẹ đến dông con, kể cả mùa dông sinh sản để cung cấp cho nhà hàng, quán nhậu nên nguồn dông tự nhiên ở đây hiện không còn bao nhiêu. Vài năm trở lại đây, nhiều hộ dân ở các huyện ven biển của Ninh Thuận đã bắt tay vào nuôi dông để phục vụ nhu cầu của thực khách địa phương và nhiều vùng khác trên cả nước. Nuôi dông đã trở thành một hướng đi hiệu quả đối với những vùng có động cát của tỉnh này. Riêng ở thôn Từ Tâm (xã Phước Hải, huyện Ninh Phước) có nhiều hộ nuôi dông quy mô lớn (từ vài ngàn đến vài chục ngàn con). Thức ăn khoái khẩu của dông là các loại rau, củ quả như cà chua, rau muống, dưa hồng... Chỉ cần khoảng 10.000 đồng rau quả là đủ cho 1.000 con ăn mỗi ngày. Ngoài ra, người nuôi còn cho dông ăn cám gạo, cám hỗn hợp và các loại đậu. Loài dông đẻ rất nhanh, từ khi mang trứng đến khi nở con chỉ khoảng 10 ngày. Dông đạt trọng lượng từ 6 - 12 con/kg thì xuất bán, với giá bình quân từ 280.000 – 300.000đ/kg. Đời sống của nhiều hộ nông dân ở Tứ Tâm đã khá giả nhờ nuôi dông.
Có dịp nào đến Ninh Thuận, ngồi trong nhà hàng, quán nhậu, bạn chớ quên thưởng thức một vài món thịt dông bản địa. Thịt dông làm được nhiều món: gỏi, xào, nướng, ram, băm nhuyễn cháy chả, nấm canh chua. Riêng tôi cứ nhớ món dông luộc nguyên con xé ra từng miếng, chấm vào dĩa muối ớt đỏ nồng, chiêu một hớp rượu, thật khoái khẩu làm sao !

Thứ Sáu, 28 tháng 10, 2011

Nuôi Dông - nghề hấp dẫn

Với ưu điểm dễ nuôi, vốn đầu tư không quá lớn, thời gian nuôi ngắn đặc biệt lãi cao nên trong thời gian gần đây, người dân huyện Bắc Bình, tỉnh Bình Thuận đã rộ lên phong trào nuôi dông.

Nghề nuôi hấp dẫn
Gia đình anh Trần Xuân Tuệ ở khu phố Xuân Hội, thị trấn Chợ Lầu, huyện Bắc Bình năm 2007 đầu tư 15 triệu đồng mua 5.000 con dông giống về thả tại khu vườn đất cát 1.000m2 ngay cạnh nhà. Để cho dông không thoát được ra ngoài, anh xây tường bao quanh khu vườn, cao 1,5m, móng sâu khoảng 60cm. Anh Tuệ cho biết: Do dông sống trong hang nên bắt buộc nuôi dông phải là các vườn đất cát để cho chúng đào hang. Thức ăn ưa thích của dông là các loại rau, củ quả như cà chua, rau muống, dưa hồng...
Chỉ cần khoảng 10.000 đồng mua rau quả, đồng thời tận dụng cơm thừa sau bữa ăn là đủ cho 5.000 con ăn mỗi ngày. Loài dông đẻ rất nhanh, từ khi mang trứng đến khi nở con chỉ khoảng 10 ngày. Dông lớn nhanh, từ khi mới đẻ đến khi xuất chuồng chỉ khoảng 7 - 8 tháng, đạt trọng lượng 3 - 4 con/kg đối với dông đực và 5 – 7 con/kg đối với dông cái. Giá dông thương phẩm, tùy từng thời điểm nhưng dao động từ 180.000 – 250.000 đồng/kg thậm chí có lúc lên tới 300.000 đồng/kg. Sau một năm nuôi dông, với lượng bán ra, trừ chi phí anh Tuệ còn lãi trên 30 triệu đồng, chưa kể trong vườn vẫn còn rất nhiều dông lớn nhỏ trị giá trên 30 triệu đồng nữa anh chưa thu hoạch.
Theo ông Ngự, chi phí về thức ăn cho dông rất thấp, người dân chủ yếu tận dụng các phụ phẩm nông nghiệp, đầu tư chuồng trại đơn giản, công chăm sóc ít, chi phí thuốc thú y phòng chống dịch bệnh hầu như không đáng kể, giá bán cao trong khi đó thị trường tiêu thụ rộng lớn như thành phố Hồ Chí Minh, Khánh Hòa, Lâm Đồng…; ngay tại địa phương nhu cầu cũng rất lớn. Từ các yếu tố thuận lợi này nên hiệu quả kinh tế nuôi dông rất hấp dẫn, bình quân thu lợi nhuận từ 20 – 30 triệu đồng/trại/1.000m2.
Ông Đinh Văn Ngự, Trưởng phòng NN - PTNT huyện Bắc Bình cho biết: Dông được coi là đặc sản của tỉnh Bình Thuận. Vì thịt dông quý và bổ nên có một thời gian, đào dông, bẫy dông được coi là nghề “hái ra tiền” của người dân nơi đây, chính vì vậy mà dông trong tự nhiên tại Bắc Bình có nguy cơ bị tuyệt chủng. Từ đó, nhiều nông dân trong vùng đã chú ý đến việc thu gom và nhân giống, để tổ chức nuôi dông nhân tạo, dần tạo ra nghề mới cho thu nhập khá ở vùng đất nổi tiếng nghèo khó này.
Nghề nuôi dông tại Bắc Bình phát triển được khoảng 4 năm nay, rồi lan rộng ra các tỉnh Ninh Thuận, Khánh Hòa... Theo số liệu của Phòng NN & PTNT huyện Bắc Bình, tính đến đầu năm 2009, diện tích nuôi dông trong toàn huyện đã lên gần 25 ha, tăng thêm 11 ha so với năm 2007, trong đó nhiều nhất ở các xã Hồng Phong 5 ha, Hòa Thắng 5,5 ha, thị trấn Lương Sơn 5 ha, Sông Lũy 0,7 ha, Hồng Thái 2,5 ha và các xã khác chiếm diện tích gần 6 ha.
Băn khoăn
Thực tế nghề nuôi dông tại Bắc Bình vẫn còn nhỏ lẻ, mật độ nuôi thấp, chỉ từ 1-4 con/m2. Các biện pháp kỹ thuật áp dụng nuôi dông hầu như vẫn chưa có, người nuôi chủ yếu thực hiện theo kinh nghiệm truyền từ người này sang người khác. Người nuôi dông còn gặp không ít khó khăn về vốn đầu tư mua con giống do giá giống khá cao. Bên cạnh đó, mặc dù Bắc Bình chưa xuất hiện dịch bệnh trên con dông, nhưng khi đã nuôi dông theo phương thức thâm canh với mật độ cao thì nguy cơ xảy ra dịch bệnh là khó tránh khỏi.
Do vậy việc tổ chức tập huấn chuyên đề kỹ thuật nuôi dông, nhất là cách phòng tránh các loại dịch bệnh cho người dân lúc này rất cần thiết. Theo ông Ngự thì hiện nay các địa phương đã bắt đầu triển khai thành lập các câu lạc bộ nuôi dông, mục đích để nông dân có điều kiện hỗ trợ nhau về kỹ thuật, giá cả và tìm thị trường tiêu thụ. Cùng với đó, Phòng Nông nghiệp huyện cũng đang tiến hành xây dựng quy trình kỹ thuật nuôi dông để phổ biến cho người dân; kiến nghị với huyện chỉ đạo các ngân hàng cho người nuôi dông vay vốn phát triển nghề nuôi hấp dẫn này…